Chào mừng quý vị đến với website của NGUYỄN NGỌC TIỄN
Một thời để nhớ _ Đó là những kỷ niệm thời
cấp 3, để lưu giữ những kỷ niệm ấy tôi đã tạo
một website mini, mời các bạn ghé thăm Kỷ niệm
một thời
PLĐC_ Vi phạm pháp luật

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: ngoctien258147@yahoo.com
Người gửi: Nguyễn Ngọc Tiễn (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:21' 20-06-2011
Dung lượng: 43.5 KB
Số lượt tải: 23
Nguồn: ngoctien258147@yahoo.com
Người gửi: Nguyễn Ngọc Tiễn (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:21' 20-06-2011
Dung lượng: 43.5 KB
Số lượt tải: 23
Số lượt thích:
0 người
VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
1.Vi phạm pháp luật.
a. Khái niệm vi phạm pháp luật.
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
* Dấu hiệu của vi phạm pháp luật:
-Vi phạm pháp luật luôn là hành vi
-Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
-Vi phạm pháp luật là hành vi có lỗi.
- Chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật phải có năng lực trách nhiệm pháp lý.
2. Cấu thành vi phạm pháp luật.
a. Mặt khách quan của vi phạm pháp luật.
Mặt khách quan củavi phạm pháp luật là toàn bộ các dấu hiệu bên ngoài củavi phạm pháp luật, gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả thiệt hại cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiẻm cho xã hội và hậu quả thiệt hại cho xã hội cùng các dấu hiệu khác (thời gian, địa điểm, phương tiện, công cụ...).
VI phạm pháp luật trước hết phải là hành vi thể hiện bằng hành động hoặc không hành động. Không thể coI ý nghĩ, tư tưởng, ý chí của con người làvi phạm pháp luật nếu nó không được thể hiện thành những hành vi cụ thể. Hành vi để bị coI là nguy hiểm cho xã hội phải là hành vi trái pháp luật. Tính trái pháp luật được biểu hiện dưới hình thức làm ngược lại Điều pháp luật quy định, thực hiện hành vi vượt quá giới hạn pháp luật cho phép hoặc làm khác đi so với yêu cầu của pháp luật.
Hậu quả thiệt hại cho xã hội là những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần mà xã hội phải gánh chịu. Xác định sự thiệt hại của xã hội chính là xác định mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả thiệt hại cho xã hội được biểu hiện: sự thiệt hại cho xã hội phải do chính hành vi trái pháp luật nóI trên trực tiếp gây ra. Trong trường hợp giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả thiệt hại cho xã hội không có mối quan hệ nhân quả thì sự thiệt hại của xã hội không phải do hành vi trái pháp luật trên gây ra mà có thể do những nguyên nhân khác, trường hợp này không thể bắt chủ thể của hành vi trái pháp luật phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà hành vi trái pháp luật của họ không trực tiếp gây ra. Ví dụ: hành vi trộm cắp tài sản, hành vi cố ý gây thương tích, hậu quả chết người, làm thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của người khác.
b. Khách thể của vi phạm pháp luật.
Khách thể của VPPL là những QHXH được Nhà nước bảo vệ nhưng bị hành vi VPPL xâm hại.
Mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật phụ thuộc vào tính chất,ý nghĩa, tầm quan trọng và giá trị của khách thể.
c. Mặt chủ quan củavi phạm pháp luật.
Mặt chủ quan củavi phạm pháp luật là toàn bộ các dấu hiệu bên trong của nó, bao gồm yếu tố lỗi và các yếu tố có liên quan đến lỗi là động cơ, mục đích của chủ thể thực hiệnvi phạm pháp luật.
Lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình, cũng như đối với hậu quả của hành vi đó.
Lỗi được thể hiện dưới 2 hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý. Lỗi cố ý có thể là cố ý trực tiếp có thể là cố ý gián tiếp. Lỗi vô ý có thể là vô ý vì quá tự tin cũng có thể là vô ý do cẩu thả.
- Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội;nhìn thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra.
Ví dụ: Lỗi cố ý giết người,lỗi cố ý gây thương tích cho người khác.
- Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; nhận thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra, tuy không mong muốn những để mặc cho hậu quả xảy ra.
Ví dụ: Lỗi cố ý gián tiếp không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng dẫn đến người đố chết
- Lỗi vô ý vì quá tự tin: Chủ thểvi phạm nhìn thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra, nhưng hy vọng, tin tưởng Điều đó không xảy ra hoặc nếu xảy ra có thể ngăn
1.Vi phạm pháp luật.
a. Khái niệm vi phạm pháp luật.
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
* Dấu hiệu của vi phạm pháp luật:
-Vi phạm pháp luật luôn là hành vi
-Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
-Vi phạm pháp luật là hành vi có lỗi.
- Chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật phải có năng lực trách nhiệm pháp lý.
2. Cấu thành vi phạm pháp luật.
a. Mặt khách quan của vi phạm pháp luật.
Mặt khách quan củavi phạm pháp luật là toàn bộ các dấu hiệu bên ngoài củavi phạm pháp luật, gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả thiệt hại cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiẻm cho xã hội và hậu quả thiệt hại cho xã hội cùng các dấu hiệu khác (thời gian, địa điểm, phương tiện, công cụ...).
VI phạm pháp luật trước hết phải là hành vi thể hiện bằng hành động hoặc không hành động. Không thể coI ý nghĩ, tư tưởng, ý chí của con người làvi phạm pháp luật nếu nó không được thể hiện thành những hành vi cụ thể. Hành vi để bị coI là nguy hiểm cho xã hội phải là hành vi trái pháp luật. Tính trái pháp luật được biểu hiện dưới hình thức làm ngược lại Điều pháp luật quy định, thực hiện hành vi vượt quá giới hạn pháp luật cho phép hoặc làm khác đi so với yêu cầu của pháp luật.
Hậu quả thiệt hại cho xã hội là những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần mà xã hội phải gánh chịu. Xác định sự thiệt hại của xã hội chính là xác định mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả thiệt hại cho xã hội được biểu hiện: sự thiệt hại cho xã hội phải do chính hành vi trái pháp luật nóI trên trực tiếp gây ra. Trong trường hợp giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả thiệt hại cho xã hội không có mối quan hệ nhân quả thì sự thiệt hại của xã hội không phải do hành vi trái pháp luật trên gây ra mà có thể do những nguyên nhân khác, trường hợp này không thể bắt chủ thể của hành vi trái pháp luật phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà hành vi trái pháp luật của họ không trực tiếp gây ra. Ví dụ: hành vi trộm cắp tài sản, hành vi cố ý gây thương tích, hậu quả chết người, làm thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của người khác.
b. Khách thể của vi phạm pháp luật.
Khách thể của VPPL là những QHXH được Nhà nước bảo vệ nhưng bị hành vi VPPL xâm hại.
Mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật phụ thuộc vào tính chất,ý nghĩa, tầm quan trọng và giá trị của khách thể.
c. Mặt chủ quan củavi phạm pháp luật.
Mặt chủ quan củavi phạm pháp luật là toàn bộ các dấu hiệu bên trong của nó, bao gồm yếu tố lỗi và các yếu tố có liên quan đến lỗi là động cơ, mục đích của chủ thể thực hiệnvi phạm pháp luật.
Lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình, cũng như đối với hậu quả của hành vi đó.
Lỗi được thể hiện dưới 2 hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý. Lỗi cố ý có thể là cố ý trực tiếp có thể là cố ý gián tiếp. Lỗi vô ý có thể là vô ý vì quá tự tin cũng có thể là vô ý do cẩu thả.
- Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội;nhìn thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra.
Ví dụ: Lỗi cố ý giết người,lỗi cố ý gây thương tích cho người khác.
- Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; nhận thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra, tuy không mong muốn những để mặc cho hậu quả xảy ra.
Ví dụ: Lỗi cố ý gián tiếp không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng dẫn đến người đố chết
- Lỗi vô ý vì quá tự tin: Chủ thểvi phạm nhìn thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra, nhưng hy vọng, tin tưởng Điều đó không xảy ra hoặc nếu xảy ra có thể ngăn
 






Các ý kiến mới nhất