Chào mừng quý vị đến với website của NGUYỄN NGỌC TIỄN
Một thời để nhớ _ Đó là những kỷ niệm thời
cấp 3, để lưu giữ những kỷ niệm ấy tôi đã tạo
một website mini, mời các bạn ghé thăm Kỷ niệm
một thời
PLĐC_ Quan hệ pháp luật

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: ngoctien258147@yahoo.com
Người gửi: Nguyễn Ngọc Tiễn (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:20' 20-06-2011
Dung lượng: 45.0 KB
Số lượt tải: 421
Nguồn: ngoctien258147@yahoo.com
Người gửi: Nguyễn Ngọc Tiễn (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:20' 20-06-2011
Dung lượng: 45.0 KB
Số lượt tải: 421
Số lượt thích:
0 người
QUAN HỆ PHÁP LUẬT
1. Khái niệm quan hệ pháp luật.
Quan hệ xã hội vốn phong phú và đa dạng, vì vậy cần phải dùng rất nhiều loại quy tắc xử sự khác nhau (quy phạm xã hội) khác nhau để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Chúng có thể là quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, phong tục, tập quán, quy phạm pháp luật... Trong hệ thống các quy phạm xã hội, quy phạm pháp luật có vị trí đặc biệt quan trọng. Chúng là loại quy phạm có hiệu quả nhất, bởi vậy, trong xã hội XHCN, Nhà nước đã sử dụng hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng nhằm đảm bảo cho chúng phát triển phù hợp với ý chí và lợi ích của mình.
Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh trong đó các chủ thể có những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định và được Nhà Nước đảm bảo thực hiện.
Quan hệ pháp luật có những đặc điểm sau:
- Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội có ý chí.
- Quan hệ pháp luật XHCN xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật
-Quan hệ pháp luật thuộc loại quan hệ tư tưởng
- Nội dung của quan hệ pháp luật được cấu thành bởi các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của Nhà nước.
2. Cấu thành của quan hệ pháp luật.
Quan hệ pháp luật được cấu thành bởi: chủ thể, nội dung và khách thể.
a. Chủ thể quan hệ pháp luật.
* Khái niệm:Chủ thể của quan hệ pháp luật là tổ chức cá nhân đáp ứng được các điều kiện do Nhà Nước quy định cho mỗi loại quan hệ và tham gia vào quan hệ pháp luật đó.
Năng lực pháp luật là khả năng của các cá nhân hay tổ chức có quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định theo qui định của pháp luật. Năng lực pháp luật xuất hiện từ khi con người mới sinh ra và tồn tại cho đến khi người đó chết.
Năng lực hành vi là khả năng của các cá nhân hay tổ chức bằng hành vi của chính mình thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý theo qui định của pháp luật.
* Chú ý:
- Năng lực pháp luật là điều kiện cần, năng lực hành vi là điều kiện đủ để cá nhân, tổ chức trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật
- Năng lực pháp luật và năng lực hành vi không phải là những thuộc tính tự nhiên mà là những thuộc tính pháp lý. Nó được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể
- Đối với các quốc gia khác nhau hoặc trong những thời kỳ lịch sử khác nhau của một quốc gia, năng lực chủ thể của cá nhân tổ chức được quy định khác nhau
* Các loại chủ thể của QHPL
Các chủ thể của QHPL có thể chia làm 4 loại sau:
Cá nhân ( công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch)
Công dân là chủ thể phổ biến và rộng rãi nhất của các quan hệ pháp luật.
Người nước ngoài và người không quốc tịch cư trú trên Việt Nam có NLPL hạn chế hơn. Ví dụ : họ không có quyền bầu cử, ứng cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước, không thể giữ những chức vụ nhất định trong bộ máy pháp luật, không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động công ích. Tuy nhiên, trên cơ sở tôn trọng các quyền cơ bản của công dân và của con người Nhà nước ta luôn thừa nhận và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của họ.
- Pháp nhân (Juridical person): là tổ chức có những dấu hiệu cơ bản sau đây:
Được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận.
Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ.
Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó.
Nhân danh mình tham gia các QHPL một cách độc lập.
Nhà nước là pháp nhân đặc biệt, là chủ thể đặc biệt của QHPL. Khi tham gia các quan hệ quốc tế như ký kết các Điều ước quốc tế, Nhà nước tham gia với tư cách là một pháp nhân. Trong quan hệ sở hữu, Nhà nước với tư cách một pháp nhân là chủ sở hữu của đất đai, rừng núi, sông ngòi, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất. Nhưng Nhà nước lại như một pháp nhân mẹ chứa đựng trong lòng mình nhiều pháp nhân là các tổ chức và cơ quan của Nhà nước. Các cơ quan tổ chức của Nhà nước trực tiếp tham gia vào các QHPL với các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định.
Các tổ chức không có tư cách pháp nhân
1. Khái niệm quan hệ pháp luật.
Quan hệ xã hội vốn phong phú và đa dạng, vì vậy cần phải dùng rất nhiều loại quy tắc xử sự khác nhau (quy phạm xã hội) khác nhau để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Chúng có thể là quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, phong tục, tập quán, quy phạm pháp luật... Trong hệ thống các quy phạm xã hội, quy phạm pháp luật có vị trí đặc biệt quan trọng. Chúng là loại quy phạm có hiệu quả nhất, bởi vậy, trong xã hội XHCN, Nhà nước đã sử dụng hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng nhằm đảm bảo cho chúng phát triển phù hợp với ý chí và lợi ích của mình.
Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh trong đó các chủ thể có những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định và được Nhà Nước đảm bảo thực hiện.
Quan hệ pháp luật có những đặc điểm sau:
- Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội có ý chí.
- Quan hệ pháp luật XHCN xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật
-Quan hệ pháp luật thuộc loại quan hệ tư tưởng
- Nội dung của quan hệ pháp luật được cấu thành bởi các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của Nhà nước.
2. Cấu thành của quan hệ pháp luật.
Quan hệ pháp luật được cấu thành bởi: chủ thể, nội dung và khách thể.
a. Chủ thể quan hệ pháp luật.
* Khái niệm:Chủ thể của quan hệ pháp luật là tổ chức cá nhân đáp ứng được các điều kiện do Nhà Nước quy định cho mỗi loại quan hệ và tham gia vào quan hệ pháp luật đó.
Năng lực pháp luật là khả năng của các cá nhân hay tổ chức có quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định theo qui định của pháp luật. Năng lực pháp luật xuất hiện từ khi con người mới sinh ra và tồn tại cho đến khi người đó chết.
Năng lực hành vi là khả năng của các cá nhân hay tổ chức bằng hành vi của chính mình thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý theo qui định của pháp luật.
* Chú ý:
- Năng lực pháp luật là điều kiện cần, năng lực hành vi là điều kiện đủ để cá nhân, tổ chức trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật
- Năng lực pháp luật và năng lực hành vi không phải là những thuộc tính tự nhiên mà là những thuộc tính pháp lý. Nó được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể
- Đối với các quốc gia khác nhau hoặc trong những thời kỳ lịch sử khác nhau của một quốc gia, năng lực chủ thể của cá nhân tổ chức được quy định khác nhau
* Các loại chủ thể của QHPL
Các chủ thể của QHPL có thể chia làm 4 loại sau:
Cá nhân ( công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch)
Công dân là chủ thể phổ biến và rộng rãi nhất của các quan hệ pháp luật.
Người nước ngoài và người không quốc tịch cư trú trên Việt Nam có NLPL hạn chế hơn. Ví dụ : họ không có quyền bầu cử, ứng cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước, không thể giữ những chức vụ nhất định trong bộ máy pháp luật, không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động công ích. Tuy nhiên, trên cơ sở tôn trọng các quyền cơ bản của công dân và của con người Nhà nước ta luôn thừa nhận và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của họ.
- Pháp nhân (Juridical person): là tổ chức có những dấu hiệu cơ bản sau đây:
Được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận.
Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ.
Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó.
Nhân danh mình tham gia các QHPL một cách độc lập.
Nhà nước là pháp nhân đặc biệt, là chủ thể đặc biệt của QHPL. Khi tham gia các quan hệ quốc tế như ký kết các Điều ước quốc tế, Nhà nước tham gia với tư cách là một pháp nhân. Trong quan hệ sở hữu, Nhà nước với tư cách một pháp nhân là chủ sở hữu của đất đai, rừng núi, sông ngòi, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất. Nhưng Nhà nước lại như một pháp nhân mẹ chứa đựng trong lòng mình nhiều pháp nhân là các tổ chức và cơ quan của Nhà nước. Các cơ quan tổ chức của Nhà nước trực tiếp tham gia vào các QHPL với các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định.
Các tổ chức không có tư cách pháp nhân
 






Các ý kiến mới nhất